Mẹ luôn bảo mình khẩu xà tâm phật, còn tôi lớn lên trong những lời mắng
Ký ức đầu tiên tôi nhớ được về mẹ không phải là một cái ôm. Năm hai, ba tuổi, tôi chập chững đi rồi ngã sấp xuống sân, đầu gối rớm máu, đứng khóc vì đau. Mẹ không chạy lại dỗ như những bà mẹ khác mà đứng mắng một tràng, hỏi sao tôi ngã làm rách quần để bà lại phải ngồi khâu. Tôi nghẹn lại, không khóc được nữa, chỉ thấy tủi và mơ hồ hiểu rằng mẹ không thương mình. Lớn lên một chút, tôi như cái gai trong mắt mẹ, làm gì, đi đâu cũng bị nói. Lạ là với hàng xóm, mẹ lúc nào cũng tươi cười, khéo léo, còn với con gái mình thì ngược lại hoàn toàn.
Nhà nghèo, lên lớp sáu vào lớp chuyên ngữ, tôi lủi thủi một mình, không có bạn. Rồi một cô bạn cùng lớp chủ động chơi với tôi. Bạn xinh, học giỏi, nhà khá giả, vậy mà rất chân thành, hay khen tôi thông minh. Chỉ cần có một người tin mình như thế, tôi như được sống lại. Tôi lao vào học, từ chỗ đứng gần cuối lớp, chỉ sau một học kỳ đã lên đầu lớp, và giữ vị trí ấy suốt những năm sau, kể cả khi vào trường chuyên cấp ba. Tôi biết rõ động lực của mình lúc ấy là niềm vui và niềm tự hào vì có một người bạn thân như vậy.
Ở nhà bị mắng, tôi chẳng muốn về, nhưng cứ sang nhà bạn là hai đứa nói cười rôm rả. Điều tôi nhớ nhất là mẹ của bạn. Cô hiền, nói năng nhỏ nhẹ, kiên nhẫn chỉ bạn nấu từng món, khâu từng đường kim. Đứng nhìn hai mẹ con trong bếp, tôi ước mình cũng có một người mẹ như thế. Còn ở nhà, mỗi lần tôi lại gần bếp nhờ mẹ dạy nấu ăn là bị đuổi ra, bị chê vụng, chê ẩu. Dần dần tôi không dám bước vào bếp nữa. Đến giờ, mỗi lần đứng nấu một món mới, tôi vẫn hơi run tay như sợ có ai đứng sau lưng chê bai.
Thi đại học, tôi đỗ trường mình mơ ước, bạn đỗ một trường khác, hai đứa vẫn thân. Bạn tốt nghiệp trước tôi một năm rồi đi du học. Năm cuối, tôi có gần tám tháng ở nhà làm luận văn và chờ bằng. Đó là quãng thời gian tối tăm nhất. Ngày nào mẹ cũng so sánh tôi với con nhà người ta, bảo bạn bè đi làm hết rồi, chỉ có tôi bám váy mẹ. Chưa có bằng, tôi gửi hồ sơ đi mười chỗ, không nơi nào nhận. Không có thu nhập, tiền mua tờ báo xem tin tuyển dụng cũng phải ngửa tay xin. Không còn người bạn thân bên cạnh, nghe mãi những lời nặng nề, tôi rơi vào trầm cảm, tin rằng mình vô dụng đúng như mẹ nói. Có những đêm tôi nằm nhìn trần nhà, nghĩ đến những điều dại dột. Một ngày, tôi xếp vài bộ quần áo, bỏ sang nhà bác ruột, chị gái của mẹ, ở nhờ.
Bác không hỏi nhiều, cũng không sợ hay xa lánh một đứa cháu lầm lì, ai hỏi gì cũng không đáp. Bác vẫn nhờ tôi trông mấy đứa cháu nhỏ, dạy bé lớn học bài. Nhờ vậy tôi thấy mình còn có ích. Nhà bác gần nhà thờ, ngày nào tôi cũng nghe tiếng giảng vọng sang, có câu về những con chim trời không gieo hạt mà vẫn có ăn, khiến tôi bớt bế tắc hẳn. Chiều chiều bác dắt tôi ra công viên, kể chuyện ngày xưa. Ông ngoại mất khi bà đang mang thai mẹ. Sinh mẹ xong, bà đi bước nữa và chỉ mang theo bác vì bác đã lớn, đỡ đần được việc nhà. Mẹ bị gửi cho một bà cô không chồng, tính tình cay nghiệt, phải tự đan len kiếm tiền đi học. Lần đầu tiên tôi hiểu vì sao mẹ lại thành ra như thế: một đứa trẻ chưa từng được ai dịu dàng thì lớn lên cũng không biết dịu dàng với con mình.
Hai tháng sau, tôi khỏe lại, về nhà và sớm xin được việc. Khi tôi tự lo được tài chính, mẹ bỗng nể nang, không còn chửi mắng nữa. Nhưng những lời mẹ nói suốt bao năm vẫn nằm đó trong lòng tôi. Mẹ vẫn đi kể với hàng xóm rằng bà khẩu xà tâm phật. Tôi không đồng tình, vì tôi đã thấy cả bố, một người đàn ông, ngồi khóc sau những trận mẹ nói. Tôi hiểu mẹ từng khổ, nhưng hiểu chưa có nghĩa là đã buông được. Có hôm mẹ gọi tôi về ăn cơm, giọng bình thường như chưa từng có gì, còn tôi ngồi đối diện mà cổ họng nghẹn lại. Tôi vẫn đang tập cách bước qua quá khứ, từng chút một, và chỉ mong những ai đang làm cha mẹ nhớ rằng lời nói độc ác có khi để lại vết thương lâu lành hơn cả đòn roi.
5lượt xem
Bình luận
- Chưa có bình luận.